
HỎI ?
Con đang gặp khó khăn về luân lý. Con là người Công giáo, còn chồng con là người Chính Thống giáo. Anh ấy gần 40 tuổi, còn con gần 35 tuổi. Chúng con đã kết hôn gần 4 năm. Chúng con được biết rằng chúng con chỉ có 1% cơ may thụ thai tự nhiên vì vấn đề vô sinh ở người chồng (tinh trùng yếu). Hai vợ chồng con đã áp dụng phương pháp phẫu thuật và sử dụng vitamin để làm tăng cơ may thụ thai, nhưng không cải thiện được bao nhiêu. Chúng con cũng đã thử phương pháp Creighton Model, nhưng cách này xử lý tình trạng vô sinh ở nữ giới chứ không ở nam giới. Cách duy nhất để chúng con có con là sử dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, với kỹ thuật ICSI (Intracytoplasmic Sperm Injection), một tế bào tinh trùng được đưa vào trứng (điều này vượt qua vấn đề di động). Giáo Hội Chính Thống không cấm thụ tinh trong ống nghiệm mà khuyến khích điều đó trong những trường hợp như chúng con, cha cho con hiết Giáo huấn Công Giáo về vấn đề nầy như thế nào, con có được phép thực hiên kỹ thuật ICSI không?
TRẢ LỜI :
Giáo hội luôn thể hiện tình tình yêu thương của người mẹ dành cho con cái, Giáo hội rất thấu hiểu nỗi lòng của những cập vợ chồng vô sinh, tuy nhiên Giáo hội không thể nào đi ngược lại với thánh sy của Chúa, vì sự sống đến từ Thiên Chúa, sự sống được trao ban trong chính định chế hôn nhân, vì thế việc thụ thai ngoài hôn nhân là điều không được phép đới với Giáo huấn của Giáo Hội
Một trong các huấn thị đầu tiên và uy tín nhất – và vẫn rõ ràng nhất – về vấn đề sinh sản có trong Huấn Thị Donum Vitae do Thánh bộ Giáo lý Đức tin ban hành vào ngày 22-2-1987. Theo huấn thị sự sinh sản luôn là hoa trái và là dấu chỉ tự hiến cho nhau giữa hai vợ chồng, trao nhau tình yêu và lòng chung thủy.” Điều này được Thánh GH Phaolô VI đề cập trong Thông Điệp Humanae Vitae (Sự Sống Con Người), ban hành ngày 25-7-1968, theo đó hôn nhân và sinh sản được nối kết không thể tách rời, được Thiên Chúa thiết lập, điều mà con người không thể phá bỏ theo ý mình, giữa ý nghĩa kết hợp và sinh sản của hôn nhân, cả hai điều đó vốn dĩ gắn liền với hôn nhân. (số 12)
Ý nghĩa kết hợp của hôn nhân là người nam và người nữ liên kết với nhau trong hôn nhân trở nên “một xương một thịt.” Dĩ nhiên đó là việc giao hợp phu thê. Thông điệp Humanae Vitae dạy rằng có sự liên kết “không thể tách rời” giữa việc tự hiến cho nhau trong việc giao hợp phu thê và sinh ra sự sống mới.
Chúng ta biết rằng mối liên kết giữa sự giao hợp và sự sinh sản không thể tách rời về thể lý (vì chúng ta có thể dễ dàng phá bỏ điều đó, ít nhất là ngày nay), tính bất khả phân ly đó phải là phẩm chất luân lý. Nghĩa là không bao giờ hợp pháp khi muốn tách rời sự sống mới khỏi việc giao hợp phu thê trong hôn nhân. ĐGH Piô XII đã dạy nguyên tắc này từ năm 1956, khi nói về mối liên kết không thể tách rời khi ngài tuyên bố: “Không bao giờ được phép tách rời các phương diện khác nhau này tới mức độ loại trừ ý định sinh sản hoặc mối quan hệ hôn nhân.”
Điều nay đưa đến hai kết luậ: 1) Việc giao hợp không bao giờ được phép chọn cùng lúc lại loại trừ khả năng sinh sản (nghĩa là dùng biện pháp tránh thai); và 2) sự sinh sản không bao giờ được phép chọn ngoài hôn nhân.
Huấn Thị Donum Vitae kết luận rằng “thụ tinh” chỉ hợp pháp “khi đó là kết quả của hành vi hôn nhân thích hợp đối với việc sinh con mà hôn nhân được phép theo bản chất và qua đó vợ chồng nêm một xương một thịt” (Giáo Luật, 1061). Giáo huấn này được lặp đi lặp lại hơn 30 năm qua. Ví dụ, Giáo lý Công giáo dạy: Các kỹ thuật liên quan các vợ chồng kết hôn (sự thụ nhân tạo tinh tương đồng) vẫn không được chấp nhận về phương diện luân lý: “Nếu được thực hiện bên trong hôn nhân (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo cùng nguồn), những kỹ thuật này có lẽ sẽ ít tổn hại hơn; nhưng về mặt luân lý, chúng vẫn không thể được chấp nhận. Chúng tách rời hành vi tính dục khỏi hành vi sinh sản. Hành vi đặt nền cho sự hiện hữu của đứa con không còn là hành vi hiến thân cho nhau của hai nhân vị nữa, nhưng lại là hành vi “trao sự sống và căn tính của phôi thai con người cho quyền lực của các bác sĩ và các nhà sinh học, và như vậy thiết lập một sự thống trị nào đó của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Sự thống trị như vậy, tự bản chất, đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng, những điều đó phải là chung cho cả cha mẹ lẫn con cái”[1]. “Về phương diện luân lý, việc sinh sản này mất đi sự hoàn hảo riêng của nó, khi nó không được nhắm tới như là kết quả của hành vi phu phụ, hoặc hành vi kết hợp riêng của đôi phối ngẫu…. Ngoài ra, chỉ có sự tôn trọng mối dây liên kết giữa những ý nghĩa của hành vi phu phụ và sự tôn trọng tính thống nhất của hữu thể nhân linh mới làm cho sự sinh sản xứng hợp với phẩm giá con người” (SGLHTCG 2377) . Huấn thị Dignitas Personae được Thánh bộ Giáo lý Đức tin ban hành năm 2008 tiếp tục củng cố giáo huân nầy. Theo huấn thị, đứa trẻ được cưu mang trong sinh sản con người là một nhân vị, bình đẳng về phẩm giá với cha mẹ nó. Bởi thế em xứng đáng để được chào đời qua một hành vi của tình yêu vợ chồng đúng nghĩa và dấn thân. Những kỹ thuật nào thay thế việc thụ thai bằng một tiến trình của kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm thì không tôn trọng phẩm giá ấy. Vấn đề luân lý càng trở nên nghiêm trọng khi người ta cố gắng đưa vào những giao tử (tinh trùng hoặc trứng) lấy từ những người ngoài cuộc (hôn nhân), khi nhờ đến một người phụ nữ khác mang thai, hoặc khi người ta thực hành “kiểm tra chất lượng” trên em bé; như một sản phẩm đồ vật. Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như được tiến hành ngày nay tạo ra một tỷ lệ các phôi tử vong rất cao, và mở đường cho những lạm dụng xa hơn nữa như kỹ thuật bảo quản phôi đông lạnh và những thí nghiệm gây ra sự sống bị hủy diệt hàng loạt.
Giáo huấn của Giáo hội không chỉ nói đến việc trẻ em có quyền được nuôi dưỡng bởi cha mẹ, nhưng chúng còn có quyền được sinh ra qua hành động yêu thương của cha mẹ. Các thai nhi là con người. Không có gì đáng quý giá và đáng tôn trọng hơn trong vũ trụ được tạo dựng hoàn toàn – không là thiên thần mà còn hơn là những con người. Như vậy, chúng có quyền tự nhiên được ra đời theo cách hoàn toàn phù hợp với nhân phẩm con người, theo cách diễn tả tình yêu thương của con người, và chúng ta có trách nhiệm tôn trọng quyền đó. Chỉ có hành vi con người mới đủ diễn tả tình yêu này: sự giao hợp phu thê. Khi thai nhi hiện hữu do hành vi tình yêu tự hiến, nó được sinh ra bằng tình yêu thương.
Trẻ em thụ thai từ ông nghiệm không được sinh ra trong tình yêu thương, mà chỉ được tạo ra. Chúng là sản phẩm của phòng thí nghiệm, nơi mà các yếu tố cấu thành được pha trộn với nhau dưới con mắt cảnh giác của kỹ thuật viên ở nhiệt độ được kiểm soát, được đưa vào những cái khay ấm áp, và được theo dõi bằng kính hiển vi cho tới lúc đủ mức để gieo cấy. Các thai nhi này hiện hữu không do hành vi yêu thương, mà do kỹ thuật viên trong phòng thí nghiệm. Theo cách này, chúng được coi là các sản phẩm. Cha mẹ chúng muốn nuôi dưỡng chúng trong đức tin thì cũng không và không thể xóa bỏ sự thật rằng từ lúc hiện hữu, chúng được coi là chưa giống con người (subhuman).
Giáo hội, với trách nhiệm của mình, “tái khẳng định phẩm giá và các quyền căn bản và bất khả nhượng của mỗi cá thể người, ngay từ những giai đoạn đầu tiên của cuộc sống mình, và làm sáng tỏ những đòi hỏi, bởi sự nhìn nhận phẩm giá này, mỗi con người dù ở giai đoạn nào của cuộc sống mình đều cần phải được bảo vệ và tôn trọng. (Huấn thị Dignitas Personae số 39). Do đó Giáo hội luôn từ chối không chấp nhận việc thụ thai trong ống nghiệm bất cứ phương pháp nào.
[1] Thánh bộ Giáo lý Đức Tin, Huấn thị Donum vitae, 2, 5: AAS 80 (1988) 93.

Bài viết liên quan