(phần tóm chương IV đến chương VI)
Chương IV: Môi sinh học toàn diện.
Trọng tâm đề nghị của Thông Điệp là một nền môi sinh học toàn diện như một môhình công lý: một nền môi sinh học ”hội nhập chỗ đứng đặc biệt của con người trongthế giới này và tương quan của con người với thực tại xung quanh”. Thực vậy,chúng ta không thể coi thiên nhiên như cái gì tách biệt khỏi chúng ta hay nhưmột cái khung cho đời sống chúng ta”. Điều này có giá trị vì chúng ta sốngtrong các lãnh vực khác nhau: trong kinh tế và chính trị, trong các nền văn hóa khácnhau, đặc biệt trong những nền văn hóa bị đe dọa nhất, và thậm chí trong mọi lúc đờisống thường nhật của chúng ta.
Viễn tượng toàn diện cũng đòi một nền môi sinh học về các cơ chế: ”Nếu mọi sự đều có liên hệ với nhau, thì tình trạng sức khỏe của các cơ chế trong một xã hội cũng có những ảnh hưởng đối với môi trường và tới chất lượng đời sống con người: ”Những gì làm thương tổn tình liên đới và tình thân hữu của dân chúng cũng đều gây hại cho môi trường”. Với nhiều thí dụ cụ thể, Đức Giáo Hoàng Phanxicô lập lại tư tưởng của ngài, đó là có một liên hệ giữa các vấn đề môi sinh và các vấn đề xã hội và con người mà không bao giờ người ta có thể phá vỡ. Vì thế, ”sự phân tích các vấn đề môi trường không thể tách rời khỏi sự phân tích các bối cảnh nhân bản, gia đình, lao động, thành thị, và tách khỏi tương quan của mỗi người với chính mình’, xét vì ”không có hai cuộckhủng hoảng riêng rẽ, một cuộc khủng hoảng môi trường và một cuộc khủng hoảng xã hội, nhưng chỉ có một cuộc khủng hoảng duy nhất và phức tạp về xã hội và môi trường”.
Nền môi sinh học toàn diện này ”không thể tách rời khỏi ý niệm công ích”, nhưng phải hiểu một cách cụ thể: trong bối cảnh ngày nay, trong đó ”có bao nhiêu bất công và ngày càng có nhiều những người bị gạt bỏ, thiếu các nhân quyền căn bản”, sự dấn thân cho công ích có nghĩa là thực hiện những chọn lựa liên đới trên căn bản” sự chọn lựa ưu tiên dành cho những người nghèo nhất”. Đó cũng là cách thức tốt nhất để để lại một thế giới lâu bền cho các thế hệ mai sau, không phải qua những lời tuyên bố, nhưng qua sự dấn thân săn sóc người nghèo ngày nay, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã nhấn mạnh: ”ngoài sự liên đới chân thành giữa các thế hệ, còn cần tái khẳng định nhu cầu cấp thiết về luân lý cần có sự liên đới được canh tân giữa các thế hệ”. Nền môi sinh học toàn diện cũng ảnh hưởng tới đời sống thường nhật, điều mà Thông Điệp đặc biệt chú ý trong môi trường thành thị. Con người có khả năng lớn trong việc thích ứng và ”thật là điều đáng ngưỡng mộ óc sáng tạo và lòng quảng đại của các cá nhân và các nhóm có khả năng gỡ bỏ các giới hạn của môi trường[…], học cách định hướng cuộc sống của họ giữa sự xáo trộn và bấp bênh”. Dầu vậy, một sự phát triển chân chính đòi phải cải tiến toàn diện về chất lượng cuộc sống con người: không gian công cộng, nhà ở, phương tiện di chuyển, v.v. .Cả thân xác chúng ta cũng đặt chúng ta trong tương quan trực tiếp với môi trường và với các sinh vật khác. Sự đón nhận thân thể mình như hồng ân của Thiên Chúa là điều cần thiết để đón tiếp và chấp nhận toàn thế giới như món quà của ChúaCha và như căn nhà chung; trái lại một chủ trương thống trị trên thân xác mình đang biến thành một thứ thống trị nhiều khi rất tinh vi”
Chương V: Một vài đường hướng và hoạt động.
Chương này đề cập đến câu hỏi: chúng ta có thể và phải làm gì? Nếu chỉ phân tích mà thôi thì không thể đủ: còn cần phải có những đề nghị ”đối thoại và hành động đòi có sự can dự của mỗi người chúng ta, cũng như của nền chính trị quốc tế nữa” và ”giúp chúng ta ra khỏi cái vòng lẩn quẩn tự hủy diệt mà chúng ta đang phải đương đầu’. Đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một điều không thể loại bỏ, đó là làm sao để việc xây dựng những hành trình cụ thể không được cứu xét như một ý thức hệ, hời hợt hoặc thu hẹp. Vì thế một điều không thể thiếu, đó là đối thoại, một từ luôn đặc nhắc đến trong mỗi phần của chương IV này: ”Có những cuộc thảo luận, về những vấn đề liên quan đến môi trường, trong đó thật là khó đạt tới một sự đồng thuận. [….], Giáo Hội không chủ trương giải quyết các vấn đề khoa học, cũng không thay thế chính trị, nhưng tôi mời gọi thảo luận chân thành và minh bạch, để những nhu cầu đặc thù hoặc các ý thức hệ không làm thương tổn công ích”.
Trên căn bản đó, Đức Giáo Hoàng Phanxico không sợ đưa ra một phán đoán nghiêm khắc về những hoạt động quốc tế gần đây: ”Các hội nghị thượng đỉnh thế giới vềmôi trường trong những năm gần đây không đáp ứng các mong đợi, vì thiếuquyết định chính trị, chúng không đạt tới các hiệp định môi trường hoàn cầu thực sự có ý nghĩa và hữu hiệu”. Và ngài tự hỏi: ”tại sao ngày nay người ta muốn duy trì một quyền bính sẽ được nhắc đến trong tương lai là không có khả năng can thiệp khi cấp thiết và cần phải hành động?” . Trái lại – như các vị Giáo Hoàng đã nhiều lần lập lại kể từ Thông điệp ”Hòa bình dưới thế”, cần có những hình thức và dụng cụ hữu hiệu để quản trị thế giới”: ”Chúng ta cần một hiệp địnhvề các chế độ quản trị cho toàn thể những gì gọi là công ích của thế giới”,xét vì ”sự bảo vệ môi trường không thể được bảo đảm dựa trên tính toán tài chánh về phí tổn và lợi lộc mà thôi. Môi trường là một trong những thiện ích mà các cơ cấu thị trường không có khả năng bảo vệ hoặc thăng tiến một cách thích hợp”. Cũng trong chương này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh việc phát triển những tiến trình quyết định lương thiện và minh bạch, để có thể ”phân định” đâu là những chính sách và sáng kiến xí nghiệp có thể đưa tới một ”sự phát triển toàn diện”. Đặc biệt, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một dự án mới về mặt môi sinh ”đòicó những tiến trình chính trị minh bạch và có sự đối thoại, trong khi nạn tham ô che đậy ảnh hưởng thực sự về môi sinh của một dự án để đổi lấy những ân huệ, nóthường đưa tới những hợp đồng mơ hồ, trốn tránh nghĩa vụ thông tin và mộtcuộc thảo luận sâu rộng”.Đặc biệt quan trọng là lời kêu gọi gửi đến những người nắm giữ các trách vụ chính trị, để họ ”tránh tiêu chuẩn hành động duy hiệu năng và nhất thời” đang thịnh hành ngày nay; ”Nếu họ có can đảm làm, thì họ sẽ có thể tái nhìn nhận phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ như một người và họ sẽ để lại một chứng tá về trách nhiệm quảng đại, sau khi họ đi vào lịch sử”
Chương VI: Giáo dục và linh đạo môi sinh.
Chương cuối cùng đi thẳng vào trọng tâm sự hoán cải môi sinh mà Thông Điệp mờigọi. Những căn cội cuộc khủng hoảng văn hóa tác động sâu xa và không dễ điềuchỉnh lại những tập quán và cách cư xử. Giáo dục và huấn luyện vẫn là những tháchđố chủ yếu: ”Mọi thay đổi cần có những động lực và một hành trình giáo dục”(15); cần có sự can dự của tất cả các lãnh vực giáo dục, trước tiên là ”trường học, giađình, các phương tiện truyền thông, việc huấn giáo”. Điểm đầu tiên là ”nhắm đến một lối sống mới”, có thể tạo ra cơ hội ”gây một sức ép lành mạnh trên những người nắm giữ quyền bính chính trị, kinh tế và xã hội”. Và điều này xảy ra khi những chọn lựa của những ngừơi tiêu thụ ”thay đổi được cách hành xử của các xí nghiệp, bó buộc họ cứu xét ảnh hưởng về môi sinhvà những kiểu mẫu sản xuất”.Ta không thể coi nhẹ tầm quan trọng của hành trình giáo dục về môi sinh có khả năng ảnh hưởng tới những cử chỉ và thói quen thường nhật, từ sự giảm bớt tiêu thụ nước, cho đến việc thu lượm rác theo các loại khác nhau, ‘tắt những đèn điện vô ích’: Một môi sinh học toàn diện được thực hiện kể cả bằng những cử chỉ đơnsơ thường nhật trong đó chúng ta phá vỡ lý lẽ bạo lực, khai thác bóc lột, ích kỷ”. Tất cả điều ấy sẽ đơn giản hơn nhờ cái nhìn chiêm niệm đến từ đức tin: ”Đối với tín hữu, thế giới không được chiêm ngắm từ bên ngoài nhưng từ bên trong, nhìn nhận những lối liên hệ qua đó Chúa Cha liên kết chúng ta với mọi sinh vật. Ngoài rakhi làm tăng trưởng khả năng đặc thù mà Thiên Chúa ban cho mỗi tín hữu, sự hoán cải môi sinh dẫn đưa họ đến chỗ phát huy khả năng sáng tạo và sự hăng hái’.Trở lại đường hướng được đề nghị trong Tông Huấn ”Niềm vui Phúc Âm”: ”Sự điều độ, được sống một cách tự do và ý thức, có tác động giải thoát”, cũng vậy” hạnh phúc đòi phải biết giới hạn một số nhu cầu làm cho chúng ta choáng váng, vànhờ đó tỏ ra sẵn sàng đối với nhiều cơ may do cuộc sống mang lại”; theo cách thức đó, chúng ta có thể tái cảm thấy chúng ta cần lẫn nhau, chúng ta có một trách nhiệm đối với nhau và đối với thế giới, và sống tốt lành lương thiện là điều thật bõ công”. Các thánh tháp tùng chúng ta trong hành trình này. Thánh Phanxicô nhiều lần được trưng dẫn, là ”mẫu gương tuyệt hảo về sự chăm sóc những gì là yếu đuổi và một nềnmôi sinh toàn diện, được sống trong vui mừng”, mẫu gương về sự ”không thểt ách biệt nhau giữa mối quan tâm đối với thiên nhiên, công bằng đối với người nghèo, dấn thân trong xã hội và hòa bình nội tâm . Nhưng Thông điệp cũng nhắc đến thánh Biển Đức, thánh Têrêsa thành Lisieux, chân phước Charles de Foucauld. Sau thông điệp Laudato sí này, việc xét mình, – phương thế mà Giáo Hội luôn cổ võ để định hướng cuộc sống của mình dưới ánh sáng tương quan với Chúa, – phải bao gồm một chiều kích mới: không những cứu xét xem ta đã sống tình hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với bản thân như thế nào, nhưng còn với toàn thể các loài thụ tạo và thiên nhiên nữa.

Bài viết liên quan