Đức Bênêđíctô XVI: người làm vườn nho khiêm tốn và di sản hy vọng cho Giáo Hội Công Giáo

Các ký giả Luke Coppen, AC Wimmer và Matthew Bunson của CNA nhận định rằng, cái chết của Đức Bênêđíctô XVI đã kết thúc một cuộc đời hết sức trọng yếu của một vị giáo phẩm từng công bố “niềm vui vĩnh cửu” của Chúa Giêsu Kitô và tự gọi ngài là “người làm việc khiêm tốn” trong vườn nho của Chúa.

Là một người bảo vệ rõ ràng giáo huấn Công Giáo, ngài đã đặt ra thuật ngữ “chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối” để mô tả sự bất khoan dung ngày càng tăng của chủ nghĩa thế tục đối với niềm tin tôn giáo trong thế kỷ 21.

Triều đại giáo hoàng của Đức Bênêđíctô được định hình bởi sự hiểu biết sâu sắc của ngài về thách thức này đối với Giáo hội và Đạo Công Giáo trước sự xâm lược ý thức hệ đang gia tăng, đặc biệt là từ não trạng phương Tây ngày càng thế tục, cả trong và ngoài Giáo hội.

Đức Bênêđíctô cũng là kiến trúc sư chính của cuộc chiến chống lạm dụng tình dục trong Giáo hội vào đầu những năm 2000. Ngài giám sát những thay đổi sâu rộng đối với giáo luật và sa thải hàng trăm người phạm tội khỏi bậc giáo sĩ. Ngài cũng mở một cuộc điều tra giáo luật về Legionaries of Christ [Đạo binh Chúa Kitô], sau những cáo buộc ngày càng tăng về các vụ lạm dụng tình dục nghiêm trọng từ người sáng lập dòng này, linh mục người Mexico Marcial Maciel Degollado. Cuộc điều tra giáo luật đã dẫn đến một quá trình cải cách lâu dài dưới quyền của Đức Hồng Y Velasio de Paolis.

Hàng triệu người đã đọc các cuốn sách của Đức Bênêđíctô, trong đó có cuốn sách đột phá “Introduction to Christianity” [ Dẫn nhập vào Kitô giáo] năm 1968 và ba tập “Jesus of Nazareth” [Chúa Giêsu thành Nadarét], xuất bản từ năm 2007 đến 2012, trong thời gian ngài làm giáo hoàng.

Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên từ chức trong gần 600 năm. Ngài đã đi từ Thành phố Vatican đến Castel Gandolfo bằng trực thăng vào ngày 28 tháng 2 năm 2013, và sống cuộc sống về hưu vào tháng 5 năm trong tu viện Mater Ecclesiae trong Vườn của Thị Quốc Vatican.

“Tôi chỉ đơn giản là một người hành hương đang bắt đầu chặng cuối cùng của cuộc hành trình trên Trái đất,” ngài nói như thế trong những lời cuối cùng với tư cách là giáo hoàng. “Ta hãy cùng tiến bước với Chúa vì lợi ích của Giáo hội và thế giới.”

Ngài nổi tiếng là người yêu âm nhạc – ngài chơi nhạc Mozart và Beethoven trên piano – cũng như mèo, bánh quy Giáng sinh và thỉnh thoảng uống bia Đức. Cố giáo hoàng cũng nổi tiếng hiền lành, nhã nhặn và là một người con đích thực của xứ Bavaria.

Kiên quyết xử lý các vụ lạm dụng

Rất lâu trước khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Hồng Y Ratzinger đã thúc đẩy những nỗ lực nghiêm túc để đối phó với tai họa lạm dụng tình dục của giáo sĩ. Năm 2001, ngài có công trong việc đặt các vụ lạm dụng dưới quyền tài phán của Bộ Giáo lý Đức tin và giúp các giám mục Hoa Kỳ nhận được sự chấp thuận của Vatican đối với Hiến chương Dallas và các Quy tắc căn bản mà sau đó đã tạo cơ sở cho sự tiến bộ to lớn trong việc giải quyết các vụ lạm dụng của giáo sĩ ở Hoa Kỳ.

Vào những ngày ngay trước khi Đức Gioan Phaolô II qua đời, tức tháng 3 năm 2005, Đức Hồng Y Ratzinger đã viết những bài suy gẫm về Đàng Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh ở Rôma. Trong suy tư của mình về trạm thứ chín, ngài đã lên án gay gắt, “Có biết bao điều ô uế trong Giáo hội, ngay trong số những người, trong chức linh mục, lẽ ra hoàn toàn thuộc về Ngài!” Các bài bình luận đã dự báo ngài sẽ cam kết chống lạm dụng kể từ thời điểm đắc cử.

Hai tháng sau khi làm giáo hoàng, Đức Bênêđíctô đã kỷ luật Cha Marcial Maciel, người sáng lập có sức lôi cuốn và có ảnh hưởng của Đạo Binh Chúa Kitô, người từ lâu đã bị buộc tội lạm dụng tình dục các chủng sinh và sau đó được tiết lộ là đã có một cuộc sống hai mặt vô cùng tai tiếng.

Hàng trăm linh mục phạm tội lạm dụng tình dục đã bị phế truất dưới thời Đức Bênêđíctô. Đây là sự tiếp nối công việc của ngài tại Bộ Giáo lý Đức tin, nhưng giờ đây nó đi kèm với lời xin lỗi chính thức tới các nạn nhân, bao gồm cả những người ở Hoa Kỳ, Úc, Canada và Ireland. Năm 2008, trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, ngài đã đích thân gặp gỡ các nạn nhân, và vào năm 2010, ngài đã viết một lá thư mục vụ cho người Công Giáo Ireland để xin họ tha thứ cho những đau khổ to lớn do lạm dụng gây ra.

Ngài viết: “Anh chị em đã phải chịu đựng rất nhiều và tôi thực sự xin lỗi. Tôi biết rằng không có gì có thể gỡ được sai lầm mà anh chị em đã phải chịu đựng. Lòng tin của anh chị em đã bị phản bội và nhân phẩm của anh chị em đã bị xâm phạm. Nhiều người trong số anh chị em thấy rằng, khi anh chị em đủ can đảm để nói về những gì đã xảy ra với mình, thì lại không có ai lắng nghe”.

Một bậc thầy và nhà thần học lỗi lạc

Mặc dù tuổi đã cao vào thời điểm đắc cử, Đức Bênêđíctô vẫn tiếp tục thói quen đi khắp thế giới của Đức Gioan Phaolô II. 25 chuyến tông du của ngài bên ngoài nước Ý bao gồm ba chuyến đi đến quê hương Đức và ba Ngày Giới trẻ Thế giới.

Chuyến thăm Thổ Nhĩ Kỳ năm 2006 của ngài tập trung vào mối quan hệ với Hồi giáo và Kitô giáo Chính thống, trong đó có việc ngài tham dự Các Giờ Kinh Phụng vụ do Thượng phụ Chính thống giáo của Constantinople cử hành. Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm 2008, ngài đã đến thăm địa điểm tòa tháp Trung tâm Thương mại Thế giới bị phá hủy, một giáo đường Do Thái ở New York và Đại học Công Giáo Hoa Kỳ ở Washington, D.C.

“Chúa Kitô là con đường dẫn đến Chúa Cha, là sự thật mang lại ý nghĩa cho sự hiện hữu của con người, và là nguồn của sự sống vốn là niềm vui vĩnh cửu với tất cả các thánh trong Vương quốc thiên đàng của Người,” ngài nói như thế với 60,000 người tập trung tham dự Thánh lễ tại Sân vận động Yankee của thành phố New York vào tháng 4 năm 2008.

Dù không lập kỷ lục phong chân phước và phong thánh nhiều nhất, Đức Bênêđíctô đã phong thánh cho 45 vị thánh mới, trong đó có Damien de Veuster, linh mục cùi của Molokai (2008); André Bessette người Canada gốc Pháp (2010); và Kateri Tekakwitha (2012), vị thánh người Mỹ bản địa đầu tiên. Ngài có sự khác biệt duy nhất trong việc cho phép bắt đầu án phong thánh cho người tiền nhiệm của mình, Đức Gioan Phaolô II, và rất hân hạnh được chủ tọa lễ phong chân phước cho ngài vào năm 2011. (Thánh Gioan Phaolô II được Đức Thánh Cha Phanxicô phong thánh vào năm 2014.)

Ngài cũng đã phong hai tiến sĩ của Giáo hội vào năm 2012, nhà thần bí người Đức thời trung cổ và nữ đan viện trưởng, Thánh Hildegard thành Bingen và linh mục người Tây Ban Nha, Thánh Gioan Ávila.

Ba thông điệp của ngài, Caritas in Veritate, Spe Salvi, và Deus Caritas Est, nhấn mạnh đến các nhân đức thần học của đức mến và đức cậy. Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết hợp thông điệp đức tin còn dang dở của Đức Bênêđíctô vào thông điệp Lumen fidei năm 2013 của chính ngài.

Mỗi thông điệp đưa ra những suy tư sâu sắc của một trong những nhà thần học vĩ đại của Giáo hội. Ý nghĩa tương tự có thể được gắn liền với các tông huấn hậu thượng hội đồng của ngài, thành quả của các Thượng Hội đồng Giám mục được tổ chức dưới sự hướng dẫn của ngài. Tông huấn năm 2007 của ngài Sacramentum Caritatis, về Bí tích Thánh Thể là “Nguồn mạch và Đỉnh cao của Đời sống và Sứ mệnh của Giáo hội,” đã báo trước lời kêu gọi phục hưng Thánh Thể trong những năm gần đây.

Đức Bênêđíctô viết, “Bí tích bác ái, Bí tích Thánh Thể, là hồng phúc mà Chúa Giêsu Kitô làm từ chính Người, nhờ đó mặc khải cho chúng ta tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mọi người nam nữ… Mầu nhiệm thánh thể cũng đánh thức trong tâm hồn chúng ta biết bao điều lạ lùng!” (SC, 1).

Đức Bênêđíctô nổi tiếng như là một nhà thần học và tác giả trên trường quốc tế trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng. Các cuốn sách của ngài bao gồm “Introduction to Christianity,” [Dẫn nhập vào Kitô giáo], một tuyển tập các bài giảng ở trường đại học của ngài về đức tin trong thế giới hiện đại. Những cuốn sách phỏng vấn của ngài là những cuốn sách bán chạy nhất, bao gồm “The Ratzinger Report” [Tường trình Ratzinger] (1985) với Vittorio Messori, “Salt of the Earth” [Muối đất] (1996), “God and the World” [Chúa và Thế giới] (2000), và “Light of the World” [Ánh sáng Thế giới] ( 2010) với nhà báo và tác giả người Đức Peter Seewald. Một trong những tác phẩm nổi tiếng mang tên ngài là bộ ba tác phẩm “Chúa Giêsu Thành Nadarét,” một nỗ lực nhằm giải thích Chúa Giêsu Kitô cho thế giới hiện đại.

“Giáo Hội của Thiên Chúa cũng hiện hữu ngày nay, và ngày nay nó chính là công cụ mà qua đó Thiên Chúa cứu rỗi chúng ta.”

Vào tháng 7 năm 2021, vị giáo hoàng hưu trí lúc đó 94 tuổi đã cảnh cáo về một Giáo hội và giáo lý không có đức tin; ngài nói rằng: “Chỉ có đức tin mới giải phóng con người khỏi những ràng buộc và hạn hẹp của thời gian”.

Vào tháng 2 năm 2022, Đức Giáo Hoàng hưu trí đã công bố một lá thư đề cập đến một báo cáo về lạm dụng ở Tổng giáo phận Munich-Freising, buộc lỗi ngài trong việc xử lý các vụ lạm dụng trong thời gian làm tổng giám mục vào cuối những năm 1970. Trong đó, một lần nữa ngài bày tỏ với tất cả các nạn nhân bị lạm dụng tình dục sự xấu hổ sâu xa, nỗi buồn sâu xa và lời cầu xin tha thứ chân thành của ngài.

Bức thư cũng phục vụ như một suy gẫm cuối cùng về cuộc đời nghỉ hưu của ngài nhưng cũng là đức tin bền vững đặc trưng cho những lao công của ngài nhân danh Chúa Kitô và Giáo hội của Người.

Ngài viết: “Sẽ sớm thôi, tôi sẽ thấy mình đứng trước vị thẩm phán cuối cùng của cuộc đời tôi. Mặc dù, khi nhìn lại cuộc đời dài của mình, tôi có thể có lý do rất lớn để sợ hãi và run rẩy, nhưng tôi vẫn vui mừng, vì tôi tin chắc rằng Chúa không những là vị quan tòa công bình, mà còn là người bạn và người anh em của tôi. chính Người đã đau khổ vì những thiếu sót của tôi, và do đó cũng là người biện hộ cho tôi, ‘Đấng phù hộ’ của tôi”.

Ngài viết tiếp: “Trước giờ phán xét, ân sủng được làm một Kitô hữu càng trở nên rõ ràng hơn đối với tôi. Nó cho tôi kiến thức, và thực sự là tình bạn, với vị thẩm phán của cuộc đời tôi, và do đó cho phép tôi tự tin bước qua cánh cửa tối tăm của cái chết.”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *